CHUYÊN MỤC

Chương trình 135 > Kết quả thực hiện Chương trình 135 đến giữa kỳ giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Kết quả thực hiện Chương trình 135 đến giữa kỳ giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai

15/08/2018

Tỉnh Gia Lai có 297 thôn (làng) ĐBKK khu vực II và 65 xã thụ hưởng Chương trình 135 gồm 61 xã ĐBKK và 4 xã biên giới. Toàn tỉnh có 45.340 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 13,34% tổng số hộ dân trên địa bàn tỉnh. Trong đó hộ nghèo DTTS 39.217 hộ, chiếm tỷ lệ 86,5% tổng số hộ nghèo và hộ cận nghèo 33.406 hộ, chiếm tỷ lệ 9,83% tổng số hộ dân. Trong đó, hộ cận nghèo DTTS 24.868 hộ, chiếm tỷ lệ 74,44% tổng số hộ cận nghèo. Số hộ các xã ĐBKK thuộc Chương trình 135 là 5.880 hộ, tỷ lệ hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn 32,2 %, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số 95,67 %.


Đánh giá Kết quả thực hiện Chương trình 135 năm 2016-2017 và 6 tháng đầu năm 2018:

Tiểu Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất:

      Trong 02 năm 2016 và 2017: Hỗ trợ cho 74 xã đặc biệt khó khăn và 214 thôn, làng đặc biệt khó khăn. Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ phát triển sản xuất 02 năm: 59.547 triệu đồng. nguồn vốn này đầu tư hỗ trợ cho các hộ nghèo với các chương trình hỗ trợ bò giống, phân bón và giống lúa lai, ngô lai: Cấp 1.864 con bò cho 1.864 hộ, hỗ trợ phân bón các loại 1.909.054 kg, lúa thuần 64.005 kg và ngô lai 21.395 kg cho 72.028 hộ.
      Năm 2018: Hỗ trợ cho 65 xã đặc biệt khó khăn và 238 thôn, làng đặc biệt khó khăn. Nguồn vốn được phẩn bổ là 30.125 triệu đồng, trong đó vốn trung ương hỗ trợ 27.386 triệu đồng và vốn đối ứng của tỉnh 2.739 triệu đồng. Nguồn vốn này hỗ trợ các dự án về trồng trọt, chăn nuôi cho các hộ nghèo. Đến nay đã hỗ trợ giống và phân bón  cho các hộ nghèo, bao gồm giống ngô lai và lúa 18.427,6 kg, với số vốn đã giải ngân 8.500 triệu đồng và số hộ thụ hưởng ước đạt 22.175 hộ.

Tiểu dự án Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng:
      Trong 02 năm 2016 và 2017: Hỗ trợ cho 74 xã đặc biệt khó khăn và 214 thôn, làng đặc biệt khó khăn. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng 02 năm: 257.224 triệu đồng, trong đó vốn trung ương 233.600 triệu đồng, vốn địa phương 22.312 triệu đồng và vốn dân đóng góp 1.312 triệu đồng. Với nguồn vốn này đã triển khai trong 2 năm với số công trình đầu tư mới gồm Giao thông 323 công trình; Nhà sinh hoạt cộng đồng 56 công trình; Trường học 65 công trình; Thủy lợi 6 công trình; Nước sinh hoạt 01 công trình; Điện 01 công trình; Cụm truyền thanh 01 công trình; Trạm y tế 01 công trình. Công trình chuyển tiếp 2016 sang năm 2107 là Giao thông: 27 công trình; Nhà sinh hoạt cộng đồng: 5 công trình; Trường học: 8 công trình; Trạm y tế: 1 công trình.
      Vốn phân bổ hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng năm 2018: 128.426 triệu đồng, trong đó: Vốn Ngân sách TW 114.517 triệu đồng; Vốn đối ứng của tỉnh 11.452 triệu đồng, dân đóng góp 2.457 triệu đồng. Nguồn vốn này được phân bổ cho  65 xã ĐBKK và 238 thôn, làng ĐBKK. Đầu tư các xã ĐBKK là 75.042 triệu đồng, trong đó NSTW 66.917 triệu đồng  và NSĐP: 6.692 triệu đồng, dân đóng góp 1.433 triệu đồng và đầu tư cho các làng ĐBKK là 53.384 triệu đồng, trong đó NSTW 47.600 triệu đồng và NSĐP 4.760 triệu đồng, dân đóng góp 1.024 triệu đồng. Số công trình đầu tư mới gồm: giao thông: 185 công trình; Nhà sinh hoạt cộng đồng 21 công trình; Trường học 19 công trình; Thủy lợi 1 công trình; Nước sinh hoạt 06 công trình; Trạm y tế 01 công trình. Công trình chuyển tiếp:  Giao thông: 7 công trình.
Untitled-(1).png
Đoàn công tác Ủy ban Dân tộc kiểm tra công trình trường hoc tại xã Đak Sơmei, huyện Đak Đoa
 
Công trình duy tu bảo dưỡng:
      Trong 02 năm 2016 và 2017 với kinh phí duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng các xã, thôn ĐBKK 13.704 triệu đồng. Triển khai thực hiện duy tu các công trinh gồm: công trình giao thông 52 CT; Nhà sinh hoạt cộng đồng 36 CT; Hệ thống nước sinh hoạt: 02 CT và 34 giếng đào; trường học: 35 CT; thủy lợi 03 CT. Kinh phí duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng các xã, thôn ĐBKK năm 2018: 6.617 triệu đồng, trong đó: Vốn ngân sách TW 6.016 triệu đồng; Vốn đối ứng của tỉnh: 601 triệu đồng. Các công trình duy tu bảo dưỡng gồm: giao thông: 25 CT; Nhà sinh hoạt cộng đồng: 10 CT; hệ thống nước sinh hoạt 04 CT; trường học  06 CT. Đến nay, các huyện đang triển khai thực hiện.

Tiểu dự án Nâng cao năng lực cộng đồng và cán bộ cơ sở:
      Vốn phân bổ Dự án Nâng cao nãng lực 02 năm 2016 và 2017 là 7.579 triệu đồng, trong đó: Nguồn vốn phân bổ kế hoạch nãm 2017 là 3.030 triệu đồng; Nguồn vốn phân bổ sung kế hoạch nãm 2016 là 4.549 triệu đồng. Các huyện đã tổ chức tập huấn cho cộng đồng và cán bộ thôn 166 lớp với 7.939 lượt người tham gia, trong đó cán bộ thôn, làng 3.540 lượt người và người dân 4.399 lượt người.
      Tập huấn cho cán bộ cơ sở: Cán bộ thôn, làng đặc biệt khó khăn cán bộ xã đặc biệt khó khăn. Ban Dân tộc tổ chức tập huấn 15 lớp với 791 lượt người.Tổ chức đi tham quan, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm mô hình PTSX ngoài tỉnh do Ban Dân tộc tổ chức là 03 đợt với 104 lượt người là cán bộ thôn tham gia. Tổng kinh phí thực hiện Tiểu dự án Nâng cao năng lực cộng đồng và cán bộ cơ sở toàn tỉnh 2 năm là: 6.569 triệu đồng. Đạt 86,7 % kế hoạch.
Vốn phân bổ Dự án Nâng cao năng lực năm 2018 là: 6.918 triệu đồng. Đến nay, các huyện đã xây dựng kế hoạch triển khai tập huân cho các thôn làng, trong 6 tháng đầu năm đã triển khai ước đạt 32 lớp với khoảng 480 lượt người tham gia.
Untitled-(2).png
Các cháu học sinh tiểu học đang học tại một lớp học thuộc xã Đê Ar, huyện Mang Yang,
công trình này được đầu tư từ nguồn vốn Chương trình 135

 
Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình:
      Kết quả thực hiện Chương trình 135 tác động lớn đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số cả về đời sống vật chất và tinh thần. Chương trình đã hòa nhịp cùng với các chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh đã mang lại hiệu quả thiết thực.
      Cơ sở hạ tầng ở các xã ĐBKK được đặc biệt quan tâm, đến nay giao thông đi lại thuận tiện giúp cho việc lưu thông trao đổi hàng hóa, tạo điều kiện phát triển kinh tế trong vùng. Mạng lưới y tế cơ sở ở các xã, thôn ĐBKK những năm qua được củng cố, đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường, công tác tuyên truyền vệ sinh phòng dịch, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ở các xã và những thôn, làng đặc biệt khó khăn được duy trì thường xuyên nên cơ bản đã ngăn chặn được các dịch bệnh lây lan trên địa bàn. mỗi huyện có trung tâm y tế huyện với đội ngũ y, bác sĩ và trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh ngày càng hoàn thiện đảm bảo khám chữa bệnh cho nhân dân kịp thời. Cơ sở vật chất cũng như xây mới một số trường học mẫu giáo và tiểu học đã phần nào tháo gỡ những khó khăn về lớp học, từ đó học sinh đến lớp tăng lên.
      Tăng thu nhập bình quân hàng năm 3 triệu đồng/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân ở các xã ĐBKK 3%/năm./.
Văn Ngọc Thiên

Other



Copyright © 2016 Ban Dân tộc tỉnh Gia Lai
Chịu trách nhiệm: Kpă Đô - Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Gia Lai 
Địa chỉ: 07 Hai Bà Trưng, Pleiku, Gia Lai
Điện thoại: (0269)3716829 - Fax: (0269)3716829 - Email: bdt@gialai.gov.vn
Giấy phép số: 02/GP-TTĐT ngày 01 tháng 04 năm 2016 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai